Mối liên hệ Thiên Địa Nhân

Nền văn hóa cổ truyền từ thư ca tịch cổ của lịch sử đều bi tráng và ẩn chứa trong đó nội hàm thâm sâu dẫu có tìm tòi có nghiên cứu đến bạc đầu vẫn chưa thể nắm bắt hết. Cổ Cầm cũng là một phần trong nền văn hóa ấy.

Được lưu truyền hơn 3000 năm, Cổ Cầm lưu truyền thế gian cũng có những nội hàm của riêng. Người xưa kính trời kính đất, chú trọng thiên nhân hợp nhất, trong văn hóa truyền thống đâu đâu cũng thấm nhuần loại tư tưởng này.

Cổ Cầm dài 3 xích, 6 thốn, 5 phân (khoảng 1,2m), tạo thành con số vừa khớp với thời gian Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Cổ Cầm có 13 chủy (chủy – một trong 5 âm thời cổ đại), đối ứng với một năm 12 tháng cộng thêm tháng nhuận.

Cổ Cầm ban đầu có 5 dây đàn, đối ứng với ngũ hành. Theo truyền thuyết, Văn Vương vì tưởng niệm Bá Ấp Khảo nên đã thêm một dây nữa gọi là Văn Huyền. Khi Võ Vương lật đổ vua Trụ vì cổ vũ sĩ khí nên đã thêm một dây nữa gọi là Võ Huyền, vậy nên đã hình thành đàn bảy dây gọi là Văn Võ Thất Huyền Cầm, âm dương ngũ hành đều có hết ở trong đó. Bề mặt đàn có hình vòm cung, phía dưới hình vuông, có ý nghĩa là trời tròn đất vuông. Thời cổ đại giảng ngũ âm, gồm cungthươnggiácchủy, đối ứng với ngũ hành, lý tương sinh tương khắc cũng xuyên suốt trong đó.

Văn hóa cổ truyền tự có nội hàm vô cùng thâm sâu, Cổ Cầm cũng không ngoại lệ. Nhạc cụ này cũng không đơn giản là chỉ để giải trí. Người xưa trước khi đánh đàn, phải thắp hương đả tọa, tịnh tâm điều hòa hơi thở, hơn nữa các bài nhạc tấu phải tuân theo “cầm giả, cấm dã, cấm chỉ vu ác, dĩ chính kỳ tâm” (người chơi đàn, cấm kị, cấm chỉ làm việc ác, để giữ cho cái tâm được ngay chính), trong đó nội hàm của âm nhạc xưa bao gồm cả việc tu tâm tính, đây vốn là điều mà âm nhạc hiện đại chưa đạt tới được. Qua đó, âm nhạc mới có được sự tôn nghiêm và thần thánh.

Có rất nhiều điển cố nổi tiếng về Cổ Cầm, nổi tiếng nhất phải kể đến câu chuyện Cao Sơn Lưu Thủy.

Cổ cầm, cao sơn lưu thủy, Bài chọn lọc,

Tài gảy đàn của Du Bá Nha tinh thâm điêu luyện, có lần đang gảy đàn, một người tiều phu tên Chung Tử Kỳ nghe được, nhân lúc Du Bá Nha đang ngao du trên núi, Chung Tử Kỳ ngâm nga: “Hay cho tài gảy đàn, sừng sững như núi cao”.

Khi tâm trí Du Bá Nha đang thả trôi theo dòng nước, Chung Tử Kỳ cất lên: “Hay cho tài gảy đàn, dạt dào như nước chảy”.

Từ đó hai người kết bạn, trở thành tri âm. Chung Tử Kỳ sau đó qua đời, Du Bá Nha cảm thấy không còn ai có thể nghe hiểu được tiếng đàn của ông nữa, thế là ông đã hủy cây đàn đi, từ đó về sau không gảy đàn nữa. Thời Minh Thanh có người viết cuốn tiểu thuyết “Du Bá Nha đập đàn tạ tri âm”, chính là viết về câu chuyện này, do đó trong văn hóa truyền thống Cao Sơn Lưu Thủy cũng để chỉ về tri âm.

Thời cổ đại có câu chuyện về tứ đại danh cầm liên quan đến Cổ Cầm là Hiệu Chung Cầm, Nhiễu Lương Cầm, Lục Ỷ Cầm, Tiêu Vĩ Cầm.

Cổ cầm, cao sơn lưu thủy, Bài chọn lọc,

Hiệu Chung Cầm, tương truyền Du Bá Nha đã từng gảy qua cây đàn này, nhưng có lẽ đây không phải là cây đàn mà ông đã đập. Về sau có người tặng cây đàn này cho Tề Hoàn Công, trong một lần diễn tấu, nhạc công tấu chuông, Hoàn Công gảy đàn, âm thanh bi thương, đã làm cho người hầu xung quanh đều nghe đến rơi lệ, cho nên đã để lại điển cố về Hiệu Chung Cầm.

Nhiễu Lương Cầm, tương truyền là do Sở Trang Vương sở hữu. Sở Trang Vương thích nghe tiếng đàn của Nhiễu Lương Cầm, đã từng bảy ngày không quan tâm đến triều chính. Vương hậu phải dẫn chứng điển cố mất nước của vua Kiệt, vua Trụ để khuyên ông, Trang Vương tỉnh ngộ, nén lòng sai người dùng gậy đập nát Nhiễu Lương Cầm, từ đó danh cầm này không còn tồn tại nữa, chỉ lưu lại một đoạn điển cố ghi chép lại nội hàm của văn hóa truyền thống.

Lục Ỷ Cầm, tương truyền Tư Mã Tương Như từng đàn qua cây đàn này và kết thân với Trác Văn Quân, do đó mà lưu một đoạn truyền thuyết về Lục Ỷ Cầm.

Tiêu Vĩ Cầm, tương truyền do Thái Ung thời Đông Hán chế tác. Thái Ung tính tình cương trực, không tham dự vào việc của triều đình, vì thế mà ông đi ẩn cư lánh nạn. Một hôm trên đường đi ở nhờ, nghe tiếng gỗ cây ngô đồng khi bị lửa đốt thì phát ra âm thanh trong trẻo véo von, nên ông đã chạy đến cứu khúc gỗ ngô đồng từ trong lửa ra, và chế thành đàn. Cây đàn đó âm sắc tuyệt mỹ, bởi vì phần đuôi vẫn còn lưu lại vết tích bị cháy, cho nên gọi là Tiêu Vĩ Cầm. Dân gian cho rằng Tiêu Vĩ Cầm đến thời đại nhà Minh vẫn còn tồn tại, về sau không rõ thế nào, nhưng câu chuyện về cây đàn này vẫn còn lưu truyền đến nay.

Chuyện về Cổ Cầm vẫn còn rất nhiều, có thể lưu truyền đến hôm nay đương nhiên là có nguyên nhân. Văn hóa Thần truyền tuyệt nhiên không chỉ là đơn thuần vì đặt ra cho xã hội nhân loại điều gì mà nội hàm thâm sâu hơn có lẽ người hậu thế tự mình tìm hiểu.

Tin tức liên quan

Văn hóa Thần truyền: Đàn cổ cầm

Văn hóa Thần truyền: Đàn cổ cầm

Đàn cổ cầm Trung Quốc không chỉ là một loại nhạc khí dùng để diễn tấu âm nhạc, mà còn có lịch sử truyền thừa và nội hàm văn hóa thâm sâu phong phú. Các văn nhân và quan lớn ngày xưa xem đàn cầm như người phát ngôn của lý tưởng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, thậm chí họ xem nó như một loại biểu tượng của văn nhân.

Xem thêm
Văn hóa đàn Cổ Cầm

Văn hóa đàn Cổ Cầm

Cầm, kỳ, thư, họa là tứ nghệ của văn nhân Trung Quốc; trong đó cầm là đứng đầu. Gọi là “đốt hương gảy đàn” là thể hiện tinh thần “sạch sẽ” và “thanh tịnh” đối với thưởng thức nghệ thuật cầm lạc.

Xem thêm
Bản nhạc được gửi vào vũ trụ

Bản nhạc được gửi vào vũ trụ

Khi Tử Kì lâm bệnh chết, Bá Nha chỉ gẩy đàn thêm một lần duy nhất trước mộ người tri âm rồi đập đàn vào tảng đá, không bao giờ cầm đến cây đàn nữa.

Xem thêm
Bình sa lạc nhạn – Vương Chiêu Quân

Bình sa lạc nhạn – Vương Chiêu Quân

Những bậc mỹ nhân sắc nước hương trời, chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn không còn xa lạ trong những áng thơ văn bất hủ lưu truyền muôn đời. Hẳn không ai không biết đến Tứ đại mỹ nhân từng làm khuynh đảo bốn vương triều Trung Hoa: Tây Thi, Dương Quý Phi, Điêu Thuyền và Vương Chiêu Quân. Thế nhưng, hồng nhan thì đa truân, tài hoa thì bạc mệnh. Điều này thật chẳng sai với số phận của vương chiêu quân

Xem thêm