Bình sa lạc nhạn – Vương Chiêu Quân

Những bậc mỹ nhân sắc nước hương trời, chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn không còn xa lạ trong những áng thơ văn bất hủ lưu truyền muôn đời. Hẳn không ai không biết đến Tứ đại mỹ nhân từng làm khuynh đảo bốn vương triều Trung Hoa: Tây Thi, Dương Quý Phi, Điêu Thuyền và Vương Chiêu Quân. Thế nhưng, hồng nhan thì đa truân, tài hoa thì bạc mệnh. Điều này thật chẳng sai với số phận của vương chiêu quân

Cánh nhạn nào như cố nhân xa quê…
 
Những bậc mỹ nhân sắc nước hương trời, chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn không còn xa lạ trong những áng thơ văn bất hủ lưu truyền muôn đời. Hẳn không ai không biết đến Tứ đại mỹ nhân từng làm khuynh đảo bốn vương triều Trung Hoa: Tây Thi, Dương Quý Phi, Điêu Thuyền và Vương Chiêu Quân. Thế nhưng, hồng nhan thì đa truân, tài hoa thì bạc mệnh. Điều này thật chẳng sai với
số phận của vương chiêu quân
Lạc Nhạn Mỹ nhân


Vương Chiêu Quân, tên thật là Vương Tường, là một cung nữ trong cung vua Hán Nguyên Đế. Nhà vua có rất nhiều phi tần, cung nữ trong cung nên muốn chọn ai thì chỉ nhìn qua hình vẽ. Do vậy những nàng phi tần, cung nữ nào muốn được vua sủng ái đều phải đút lót cho người vẽ hình để vẽ cho đẹp thêm. Nàng Chiêu Quân do không có tiền để đút lót nên hơn ba năm vào cung mà không được nhà vua biết đến.


Thời đó nhà Hán hay bị nước Hung Nô phía Bắc quấy nhiễu nên muốn yên biên giới các vua nhà Hán có lệ tìm người đẹp trong cung cho giả làm công chúa để gả cho các vua Hung Nô. Đến thời vua Hán Nguyên Đế cũng không ngoại lệ. Nhà vua lấy một tập tranh các cung nữ ra chỉ đại vào một tấm, và thế là nàng Chiêu Quân được chọn gả cho vua Hung Nô.


Khi trang điểm xong ra mắt vua Hán và vua Hung Nô thì Hán Nguyên Đế sững sờ vì nàng quá đẹp, đẹp hơn hết các hoàng hậu và phi tần mà nhà vua đã từng nhìn thấy. Muốn giữ lại thì đã không kịp vì lúc đó vua Hung Nô cũng ngồi cùng ở đó. Thế là nàng Chiêu Quân đành phải ngậm ngùi sang Hung Nô làm vợ.
Trên đường về nước Hung Nô, đến gần biên giới quay đầu nhìn lại quê hương lần cuối, lòng Chiêu Quân chan chứa nỗi buồn vận mệnh cũng như lìa xa cố thổ. Nhân lúc ngồi trên xe ngựa buồn u uất, nàng liền đàn Xuất tái khúc bi tráng. Khung cảnh ấy đã được diễn tả trong đoạn thơ dưới đây:


Nam lai trình tận Bắc lai trình,
Nam Bắc na kham trướng biệt tình.
Vạn lý Hán thiên hoa hữu lệ,
Bách niên Hồ địa mã vô thanh.
- Chiêu Quân xuất tái -
(Bắc trình dõi bước dứt Nam trình
Nam Bắc đường chia mối thảm đoanh
Trời Hán tuôn dòng hoa khóc tủi
Đất Hồ im tiếng ngựa reo binh
- Quách Tấn dịch -)


Tiếng đàn của Chiêu Quân ai oán vút lên không trung, đúng lúc đó có một đàn chim nhạn bay qua, nhìn thấy thiếu nữ mỹ lệ, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn, quên cả vỗ cánh mà sa xuống đất.


Nàng Chiêu Quân sau đó mất bên Hung Nô, cả đời không được về thăm quê hương một lần nào nữa.
khổ đau nối sầu thương phận má hồng
 
Dưới Minh triều, khúc điệu này còn có tên gọi là Bình sa lạc nhạn. Bản nhạc này cũng được viết từ điển tích “lạc nhạn Vương Chiêu Quân”.


Bình sa lạc nhạn có giai điệu du dương, trầm bổng, ẩn hiện như cánh nhạn lưng trời.
Bản nhạc bắt đầu với những thanh âm ngắt quãng, không liền mạch nốt trầm nốt bổng, tựa như nỗi sầu cố nhân năm nào đang nuốt thầm những giọt nước mắt thương nhớ quê hương. Tiếng đàn nghe như ai oán, xót thương rồi đều dần đều dần lên, tựa hồ xuất hiện một hơi thở, một cánh nhạn bay giữa lưng chừng không gian, chao liệng đầy tâm trạng.


Trong điệu khúc dập dìu, ta nghe thấy cả tiếng nhạn đập cánh, khi thì ngập ngừng, khi lại tĩnh lặng đến tuyệt đối, như một nét chấm phá tĩnh trong bức tranh với vạn vật đang chuyển động không ngừng.
Bất chợt, sau cái chao nghiêng ngập ngừng, cánh nhạn quay đầu lại, ngắm cảnh, cắm vật, và ngắm cố nhân trong nỗi tiếc nhớ khôn nguôi. Như thể sau cái ngoái đầu này, mọi vật sẽ xa rời tầm mắt vĩnh viễn, như cố nhân ngày nào suốt bao năm chẳng được một lần thăm lại quê cũ.


Ấy là cái đẹp luôn đi song hành với cái bi, cái tài luôn sánh đôi cùng cái họa. Giây phút này còn ở đây, còn lưu luyến cảnh sắc này, biết ngày mai sẽ đi đâu về đâu giữa dòng đời phiêu bạt gian truân?


Khúc nhạc có cái phóng khoáng rộng lớn của đất trời, có cái bao trùm của một tâm tư buồn nhớ. Bức tranh Chiêu Quân tái xuất như hiện rõ lên trước mắt… Những cánh nhạn cứ bay liệng trên không trung, ngập ngừng, tần ngần, muốn dừng lại như chính tâm trạng của con người trong cái thời khắc ấy. Ưu tư, hoài cổ, xót xa và tiếc nuối – những mạch tâm trạng đan xen vào từng nốt nhạc, điệu phách. Và phải chăng, điều này đã làm nên một bản đàn bất hủ?

Tin tức liên quan

Văn hóa Thần truyền: Đàn cổ cầm

Văn hóa Thần truyền: Đàn cổ cầm

Đàn cổ cầm Trung Quốc không chỉ là một loại nhạc khí dùng để diễn tấu âm nhạc, mà còn có lịch sử truyền thừa và nội hàm văn hóa thâm sâu phong phú. Các văn nhân và quan lớn ngày xưa xem đàn cầm như người phát ngôn của lý tưởng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, thậm chí họ xem nó như một loại biểu tượng của văn nhân.

Xem thêm
Mối liên hệ Thiên Địa Nhân

Mối liên hệ Thiên Địa Nhân

Nền văn hóa cổ truyền từ thư ca tịch cổ của lịch sử đều bi tráng và ẩn chứa trong đó nội hàm thâm sâu dẫu có tìm tòi có nghiên cứu đến bạc đầu vẫn chưa thể nắm bắt hết. Cổ Cầm cũng là một phần trong nền văn hóa ấy.

Xem thêm
Văn hóa đàn Cổ Cầm

Văn hóa đàn Cổ Cầm

Cầm, kỳ, thư, họa là tứ nghệ của văn nhân Trung Quốc; trong đó cầm là đứng đầu. Gọi là “đốt hương gảy đàn” là thể hiện tinh thần “sạch sẽ” và “thanh tịnh” đối với thưởng thức nghệ thuật cầm lạc.

Xem thêm
Bản nhạc được gửi vào vũ trụ

Bản nhạc được gửi vào vũ trụ

Khi Tử Kì lâm bệnh chết, Bá Nha chỉ gẩy đàn thêm một lần duy nhất trước mộ người tri âm rồi đập đàn vào tảng đá, không bao giờ cầm đến cây đàn nữa.

Xem thêm